image banner
Điều kiện tự nhiên xã Phan Điền

II. Tổng quan về điều kiện tư nhiên và kinh tế xã hội:

  1. Điều kiện tự nhiên:

             1.1 Vị trí:

Phan Điền là xã dân tộc miền núi nằm ở phía Đông Bắc cách trung tâm của huyện Bắc Bình 8 km, với diện tích tự nhiên là 11.168,94 ha và có vị trí như sau:

          Phía Bắc giáp xã Phan Lâm và xã Phong Phú của huyện Tuy Phong.

Phía Nam giáp xã Phan Hòa, Hải Ninh và Phan Hiệp.

Phía Đông giáp huyện Tuy Phong.

Phía Tây giáp xã Hải Ninh, Bình An và Phan Lâm.

1.2. Địa hình - địa mạo:

Xã có địa hình không bằng phẳng với nhiều đồi núi, khu vực phía bắc xã có độ dốc lớn (> 200) chiếm diện tích 90,00% diện tích tự nhiên toàn xã, diện tích còn lại có độ dốc từ 0 - 80. Độ cao trung bình của xã là 500 - 600 m.

Do lượng mưa tập trung với địa hình đồi núi có độ dốc lớn là nguyên nhân chính gây ra xói mòn, thoái hóa đất đai và khó khăn trong việc đi lại cũng như vận chuyển hàng hóa và nông sản.

1.3. Khí hậu thời tiết:

Khí hậu xã mang tính chất nóng ẩm và khô hạn, phân thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến cuối tháng 10 và mùa nắng từ tháng 11 đến cuối tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình hằng năm là 818 mm/năm. Số ngày mưa là 77 ngày/năm. Thời tiết ổn định ít biến động và hầu như không có bão lụt và gió lốc. Nhiệt độ trung bình năm từ 250 - 270

Gió: Từ tháng 5 đến tháng 9 hướng gió Tây Nam có tốc độ trung bình là 2-3 m/s, từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau có hướng gió động bắc với tốc độ trung bình 4,7 m/s. Bốc hơi cao từ 1.350-1.400 mm/năm, gần gấp 2 lần lượng mưa. Số giờ nắng từ 2.800-2.900 giờ/năm. Độ ẩm không khí: 75 - 80%.

Vào mùa khô các con suối và ao hồ có trữ lượng ít làm hạn chế nguồn nước cho địa phương trong sản xuất cũng như trong sinh hoạt hàng ngày của người dân.

Một số năm gần đây tình hình thời tiết vùng núi này diễn biến rất phức tạp đã ảnh hưởng đến việc sản xuất nông nghiệp của nông dân, giảm năng xuất nhiều loại cây trồng.

Đặc điểm khí hậu của xã là nhiệt đới gió mùa, khô, nóng, nắng nhiều, mưa ít…

          1.4. Thủy văn:

Xã có 2 con suối là suối Măng và suối Tầm Ru bắt nguồn từ dãy núi phía Bắc. Các con suối chính có tổng chiều dài là 10 km. Lượng nước này chảy vào 3 đập nhỏ của xã và đập Măng và Đập Mới I và II. Các đập này là nguồn cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp cho nhân dân trong xã.

Mùa khô các con suối cạn nước, nước sinh hoạt chủ yếu lấy từ 1 giếng nước công cộng khoan ở gần suối do ban quản lý công trình công cộng huyện cung cấp cho hộ dân.

          * Thuận lợi:

Điều kiện tự nhiên từ khí hậu thuỷ văn, địa hình, đất đai, tài nguyên, nguồn nước có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển công nghiệp, dịch vụ. Cây trồng, vật nuôi ngày càng phát triển đa dạng. Vị trí địa lý có nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu văn hóa.

Nguồn lao động dồi dào, người lao động có đặc tính cần cù, năng động, phân bổ ngành nghề phù hợp, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất hàng hóa.

Được sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của cấp ủy Đảng, chính quyền nên công tác triển khai thực hiện được thuận lợi và từng bước đi vào hoạt động có hiệu quả.

Đa số nhận thức của cán bộ, nhân dân về xây dựng nông thôn mới ngày càng được nâng lên. Ý thức về việc chung sức, chung lòng xây dựng nông thôn mới dưới sự hướng dẫn và hỗ trợ của nhà nước đang dần hình thành trong cán bộ và nhân dân trong xã

Các công trình đầu tư từ chương trình đều đúng mục đích, sát với yêu cầu phục vụ nhân dân. Cơ bản đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Sự đồng thuận, thống nhất cao trong cả hệ thống chính trị và nhân dân trong xã.

 * Khó khăn:

Từ điểm xuất phát thực hiện nông thôn mới với nhiều công trình cơ sở hạ tầng đã xuống cấp, nay đã được đầu tư xây dựng cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển của nhân dân. Bước đầu thực hiện còn nhiều lúng túng trong việc xác định mức độ đạt của từng tiêu chí. Tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt khá, nhưng thiếu bền vững, sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên; hiệu quả mang lại từ sản xuất nông nghiệp không cao; thu nhập bình quân đầu người còn thấp so với mặt bằng chung của huyện, tỉnh. Các nguồn lực hỗ trợ đầu tư từ các tổ chức và doanh nghiệp còn hạn chế, nguồn vốn huy động trong dân chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Công tác chỉ đạo, điều hành phối hợp trong Ban Chỉ đạo, Ban Quản lý có lúc chưa nhịp nhàng.

Công tác tuyên truyền đến cán bộ và nhân dân còn hạn chế, chưa thường xuyên và liên tục. Các ban ngành, đoàn thể chưa thực sự quan tâm đúng mức trong công tác tuyên truyền vận động đến các hội viên, đoàn viên của mình quản lý để cùng quản lý tham gia.


TRANG TRUYỀN HÌNH
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tháng hiện tại: 1
  • Tổng lượt truy cập: 1
Đăng nhập